Cảm nhận về truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy – Văn mẫu lớp 10

Danh mục: Soạn văn , Soạn văn tập 1

Đánh giá bài viết Cảm nhận về truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy – Bài làm 1 của một bạn học sinh giỏi Văn trường THCS Nam Sách Hải Dương Mị Châu – Trọng Thủy là một truyền thuyết bi tráng nhất. Ý nghĩa lịch sử của nó luôn luôn mới mẻ đối với dân tộc Việt Nam, đất nước Việt Nam chúng ta trong bất cứ thời đại lịch sử nào. Bài học về cảnh giác với kẻ thù trong sự nghiệp giữ nước ...

Cảm nhận về truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy – Bài làm 1 của một bạn học sinh giỏi Văn trường THCS Nam Sách Hải Dương

Mị Châu – Trọng Thủy là một truyền thuyết bi tráng nhất. Ý nghĩa lịch sử của nó luôn luôn mới mẻ đối với dân tộc Việt Nam, đất nước Việt Nam chúng ta trong bất cứ thời đại lịch sử  nào. Bài học về cảnh giác với kẻ thù trong sự nghiệp giữ nước cũng suy ngẫm, cũng thấy đau xót và thấm thía.

Xây thành ốc, chế nỏ thần là kì công của An Dương Vương. Tướng Cao Lỗ với kì công làm nỏ, lấy vuốt rùa thần làm lẫy không bao giờ phai mờ trong tâm hồn nhân dân và lịch sử của dân tộc. Thần Kim Quy là nhân vật huyền thoại xuất hiện đầu – cuối truyền thuyết Mị Châu – Trọng Thủy đã tô đậm yếu tố thần kì, huyền diệu trong kì tích yểm trừ yêu quái để xây dựng Loa Thành, để chế nỏ thần Kim Quy, và việc vạch mặt chỉ tên: Kẻ nào ngồi sau ngựa chính là giặc đó.

Nỏ thần Kim Quy thật vô cùng lợi hại. Khi Triệu Đà từ phương Bắc đem quân sang cướp phá nước Âu Lạc, An Dương Vương đã lấy nỏ thần ra bắn chết hàng vạn tên giặc, quân Triệu Đà thua to, chạy về Trâu Sơn, không dám đối chiến, xin giảng hòa.

Có thành cao, hào sâu, lại có nỏ thần linh nghiệm, nhà vua còn lo gì nữa? Việc An Dương Vương nhận lời cầu hôn của họ Triệu Phương Bắc – kẻ thù mới năm nào từng mang quân sang xâm lược nước mình, tàn sát nhân dân mình, việc An Dương Vương còn cho Trọng Thủy – con trai Triệu Đà ở rể, hành động ấy cho thấy nhà vua Âu Lạc đã mất cảnh giác cao độ, đúng là nuôi ong tay áo, nuôi cáo trong nhà.

Nỏ thần là bí mật quốc gia, nhưng làm sao mà An Dương Vương và Triều đình nước Âu Lạc lại để cho Mị Châu biết đến, để người con gái lá ngọc cành vàng đem cho Trọng Thủy xem trộm. Thậm chí đến lức kẻ gian tế ngầm làm một cái lẫy nỏ khác thay vuốt Rùa Vàng mà nhà vua cũng chẳng hay biết gì. Và khi Trọng Thủy ăn cắp được lẫy nỏ thần đem về nước, Triệu Đà lại đem quân sang xâm lược Âu Lạc,cảnh đất nước lâm nguy, nhưng An Dương Vương vẫn điềm nhiên đánh cờ, tự đắc cười lên giọng: Đà không sợ nỏ thần sao?. Còn gì đáng trách hơn là khi cha con Triệu Đà mang quân sang, tiến sát kinh thần Cổ Loa thì vua Âu Lạc mới cầm lấy nỏ thần bắn, và khi thấy nỏ thần không linh nghiệm nữa bèn bỏ chạy. Bị giặc là chàng rể truy kích đến đường cùng. An Dương Vương mới kêu to: Trời hại ta, thần Kim Quy ở đâu, mau lại cứu. Đâu phải Trời hại. Cảnh thành vỡ nước tan, núi xương sông máu dưới vó ngựa xâm lăng của cha con Triệu Đà, thảm kịch ấy là do An Dương Vương mất cảnh giác và chủ quan khinh địch.

Sau khi nghe Rùa Vàng hiện lên thét lớn: Kẻ ngồi sau lưng là giặc đó thì nhà vua mới tỉnh ngộ, hiểu ra cơ sự và chỉ còn biết tuốt kiểm chém Mị Châu. Cái chết của nhà vua đâm đầu xuống biển, ôm theo mối thù hận, đau buồn thiên thu đã được người kể chuyện bao phủ một lớp sương mờ huyền thoại: Vua cầm sừng tê bảy tấc. Rùa Vàng rẽ nước dẫn vua đi xuống biển. Nhà vua phải là người chịu trách nhiệm nặng nề trước lịch sử. Nhưng qua truyền thuyết, nhân dân ta đã dành cho An Dương Vương một tình thương, vừa đánh giá công lao dựng nước xây Loa Thanh, chế nỏ thần, vừa cảm thông cho tẩm lòng thành thực của người đứng đầu nước Âu Lạc trong việc bang giao với phương Bắc, không muôn chiến tranh. Ý định chân thành ấy đã bị quân thù tham lam, nham hiểm lợi dụng gây nên thảm họa cho đất nước, bi kịch cho gia đình. Cái chết của An Dương Vương là một hình phạt. Rùa Vàng rẽ nước dẫn vua đi xuống biển là tình thương.

Với Rùa Vàng thì Mị Châu là giặc, một thứ giặc đang ngồi sau lưng nhà vua. Với An Dương Vương thì Mị Châu là kẻ trọng tội, gây nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu  nên phải chém. Vì ngây thơ và quá tin yêu chồng, mà nàng đã cho Trọng Thủy xem trộm nỏ thần, và để hắn ăn cắp lẫy nỏ thần. Vì ngây thơ và quá tin yêu Trọng Thủy mà Mị Châu đã rắc lông ngỗng trên đường chạy giặc, để cha con Triệu Đà thúc quân truy kích An Dương Vương đến tận bờ biển phương nam đất Dạ Sơn, tổng Cao Xá, phủ Diễn Châu. Lời khấn cùa Mị Châu trước khi bị vua cha chém chết cho thấy nàng đã bị lừa dối. Đó cũng là mối hận nghìn đời: Thiếp là phận gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại cha, chết đi sẽ biến thành cát bụi. Nếu một lòng trung hiếu mà bị người lừa dối thì chết đi sẽ biến thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù. Mị Châu chết đi đã hóa thành ngọc. Máu nàng được các loài trai dưới biển hút, nên mới có ngọc trai. Sự thân hóa kiếp ấy là một minh chứng nàng là cô gái một lòng trung hiếu mà bị lừa dối. Dù ngây thơ, dù vô tình, Mị Châu là kẻ có tội đối với đất nước Âu Lạc và đối với vương phụ. Dù có tội, nhưng nàng thật đáng thương. Mị Châu biến thành ngọc trai ngàn năm sáng mãi là cách nhìn nhận đầy nhân tình, nhân hậu đôi với nàng. Sự phán xét của lịch sử và của nhân dân thật nghiêm khắc và công bằng.

Hơn hai nghìn năm đã trôi qua, người đọc truyền thuyết vẫn cảm thây sợ hãi và ghê tởm đối với Trọng Thủy. Vị phò mã của An Dương Vương, người chồng yêu quý của Mị Châu là một tên gián điệp, một tên lừa đảo, một tên ăn cắp. Hắn còn là một kẻ đầy tham vọng, muốn biến Âu Lạc thành quận huyện của phương Bắc. Việc Trọng Thủy lao đầu xuống giếng là một hành động ân hận, sám hối, hay đó là sự trừng phạt nghiêm khắc, một sự báo oán nhãn tiền.

Tình tiết ngọc trai đem rữa nước giếng Trọng Thủy nơi cổ Loa sẽ sáng thêm đã làm sáng tỏ tâm lòng trung hiếu của người con gái Âu Lạc đã bị lừa dối.

Nhiều nhà thơ đã viết về truyền thuyết Mị Châu – Trọng Thủy. Thi sĩ Tản Đà đã để lại vần thơ ngậm ngùi:

Hạt châu giếng nước ngàn năm khói nhang

Truyền thuyết Mị Châu – Trọng Thủy nhắc nhở chúng ta đừng có mơ hồ.

Cảm nhận về truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy – Bài làm 2

Với cốt truyện khá ấn tượng và đặc sắc, An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy là một truyền thuyết có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố lịch sử có thật và yếu tố tưởng tượng phong phú. Qua đây, cũng phần nào thể hiện thái độ cũng như tình cảm của nhân dân ta với các yếu tố lịch sử và nhân vật lịch sử.

 An Dương Vương  Mị Châu Trọng Thủy là truyền thuyết mang đậm yếu tố lịch sử, là câu chuyện cảm động về tình cha con, tình cảm vợ chồng giữa Mị Châu- Trọng Thủy , cũng qua đây, khi câu chuyện đã đi vào trong trí nhớ của độc giả , câu chuyện đã nhắn nhủ nhiều điều đối với hậu thế sau này. Đặc biệt là tinh thần phải luôn luôn đề cao cảnh giác đối với kẻ thù của mình. Câu chuyện kể về rùa Vàng sau khi giúp An Dương Vương xây dựng xong Loa Thành, trước khi ra về, rùa Vàng  tặng cho An Dương Vương một chiếc vuốt để làm lẫy nỏ thần. Nhờ có nỏ thần, An Dương Vương đánh bại quân Triệu Đà khi bọn chúng sang xâm lược nước ta. Sau đó Triệu Đà ngỏ ý giảng hòa và muốn xin An dương Vương cầu hôn Mị Châu cho Trọng Thủy, vua vô tình đồng ý. Trọng Thủy sau khi xin An Dương Vương về nước nhưng trước đó đã xin Mị Châu cho xem trộm nỏ thần rồi ngầm đổi mất lẫy thần mang về phương Bắc. Sau đó, Triệu Đà nhờ có nỏ thần đánh cập trong tay, đã kéo quân sang đánh Âu Lạc.Không còn nỏ thần, An Dương Vương thua trận, cùng Mị Châu chạy về phương Nam. Thần Kim Quy hiện lên nói rằng “ Kẻ thù đàng sau lưng ngươi đó”, ông kết tội Mị Châu, vua chém chết con rồi đi xuống biển. Mị Châu sau khi chết, máu chảy xuống biển, trai biển ăn vào hóa thành ngọc trai. Trọng Thủy theo dấu lông ngỗng vàng , tìm được xác vợ và mang về chôn ở Loa Thành, xác liền biến thành ngọc thạch. Vì quá tiếc thương Mị Châu, Trọng Thủy lao đầu xuống giếng mà chết. Người đời sau mò được ngọc trai, rửa bằng nước giếng ấy thì ngọc trong sáng thêm.

Câu chuyện bắt đầu khi vua của nước Âu Lạc- An Dương Vương được thần Kim Qui cho mượn nỏ thần. Ông được thần Kim Qui giúp đỡ bởi vì ông luôn có ý thức đề cao cảnh giác, một lòng bảo vệ quê hương,vậy nên cho xây thành đắp lũy để bảo vệ đất nước khỏi giặc ngoại xâm. Không những vậy,An Dương Vương còn cho quân sĩ rèn luyện để chuẩn bị mỗi khi có quân ngoại xâm có mưu đồ xâm lược đất nước. Với tinh thần quyết tâm và sự chuẩn bị kĩ lưỡng cũng như có sự giúp sức của thần , nên An Dương Vương đã dẫn dắt đất nước ngày càng thịnh vượng, đánh đuổi giặc ngoại xâm. Chính vì sự tài trí và một lòng vì dân vì nước nên ông được cả nhân dân giúp sức và cả thần linh giúp sức. Chính vì sự tôn kính của nhân dân mà hình ảnh Rùa Vàng và nỏ thân được sáng tạo ra  sự kì diệu thấn thánh bất tử hóa sự nghiệp trong buổi đầu dựng nước và giữ nước cùng với tinh thần chung sức hợp sức của nhân dân trong công cuộc đó.

Sự nghiệp dựng nước và giữ nước chưa được bao lâu thì xảy ra chuyện. Thực chất từ bản thân của An Dương Vương cũng mất cảnh giác ngay từ ban đầu. Đó là khi chấp nhận cho con gái mình kết hôn với Trọng Thủy – con trai của kẻ thù. Với mưu đồ xâm lược nước ta một lần nữa, Trọng Thủy đã tráo đổi nỏ thần và quay lại đánh chiếm Âu Lạc. Bên cạnh đó, ông đã mất cảnh giác khi cứ tin rằng chỉ có nỏ thần trong tay thì không lo sợ gì cả, tới khi xảy ra chuyện thì trở tay không kịp. Cuối cùng nhà vua rơi vào bi kịch nước mất nhà tan,lại chính ông đâm kiếm giết chết đứa con gái của mình rồi gieo mình xuống sông. Mọi thứ mất chỉ vì thiếu cảnh giác và thiếu sáng suốt trong gang tấc đã gây ra hậu quả khôn lường.

Mị Châu trong truyện là một người phụ nữ vừa đáng thương vừa đáng trách. Thương ở đây là, tới cuối cùng Mị Châu phải chịu cảnh vợ chồng li tán, nhận bi kịch là cái chết đáng thương, bị chính cha ruột rút gươm ra giết. Nhưng cũng đáng trách khi nàng thuận theo tình cảm vợ chồng mà quên mất đi nghĩa vụ đối với đất nước. Tuy vậy sau khi chết , nhân dân ta vẫn lập đền thờ cho hai cha con cạnh nhau, như xoa dịu đi nỗi đau, và nỗi oan của cả hai cha con. Tuy truyện ca ngợi tình yêu đẹp giữa Mị Châu và Trọng Thủy – khi được nhân dân gắn liền với giếng nước và ngọc trai.Nhưng suy cho cùng, Mị Châu đáng thương vì bị chính chồng mình lợi dụng. Nhưng dẫu sao , ở cuối truyện nút thắt cũng được mở ra, khi mọi ân oán được nhân dân ngầm hóa giải với hình ảnh đẹp- Giếng nước- Ngọc Trai.

 Truyện An Dương Vương Mị Châu Trọng Thủy kết thúc mà vẫn để lại nhiều dư vị trong lòng người đọc, không những thế câu chuyện lịch sử dễ dàng đi tâm trí , đặc biệt là các thế hệ sau này. Những bài học, sự khéo léo trong hóa giải ân oán được nhân dân xưa ngấm ngầm lồng ghép bằng những hình ảnh mang tính ẩn dụ cao, ngày càng mang lại sức hút cho tác phẩm.

Cảm nhận về truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy – Bài làm 3

Trong kho tàng văn học Việt Nam, thể loại văn học dân gian là một thể loại được nhiều người quan tâm và được sự quan tâm mạnh mẽ, nó đã tác động đến cuộc sống của chúng ta, một trong những câu chuyện lịch sử để lại cho người đọc nhiều những suy nghĩ sâu sắc đó là truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy.

Truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy là những câu chuyện nói về quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc, An Dương Vương là một ông vua yêu nước, và hết lòng vì nhân dân, ông đã thể hiện được một tinh thân yêu nước nồng nàn, và cố gắng chiến đấu để bảo vệ cuộc sống của nhân dân và lo cho dân cho nước. Trong quá trình dựng nước ông đã gặp phải gặp phải rất nhiều những khó khăn và những gay go xây thành thì đổ, nhờ có sự giúp đỡ của thần Kim Quy nên đã cho ông nhiều những lợi ích và những hành động của ông đã thể hiện được một người có công với đất nước, ông là một người luôn luôn biết lo cho dân cho nước. Những hành động của ông đã thể hiện được sự giúp đỡ của nhân dân, và sự giúp đỡ của thần thì việc xây dựng đất nước mới được đảm bảo, và những hành động đó đã thể hiện được một tinh thần yêu nước và những hành động đó đã giúp đỡ được cuộc sống của nhân dân.

An Dương Vương là một ông vua vô cùng yêu nước, ông đã xây dựng lên một đất nước an dân, nhân dân được hòa bình, ấm no, cuộc sống của ông luôn luôn gặp phải nhiều những khó khăn và điều đó đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến cuộc sống của nhân dân. Nhân dân ta luôn luôn phải chịu đựng nhiều những vất vả nhưng nhờ có ông vua này mà nhân dân ta được sống những tháng ngày hạnh phúc và ấm no.An Dương Vương là một người luôn luôn hết lòng vì nhân dân, cuộc sống của nhân dân được ấm no, do có vị vua biết lo cho dân cho nước. Ông là người biết lo cho nhân dân, ông đã xây dựng đất nước, xây dựng cuộc sống của nhân dân, một người biết lo cho dân cho nước, một người vì dân vì nước luôn luôn mong muốn nhân dân có cuộc sống ấm no hạnh phúc những điều đó đã thể hiện được cuộc sống hạnh phúc và ấm no. Ông vua biết lo cho dân, ông là người cương trực, thẳng thắn và luôn luôn vì dân và nước, một ông vua đã hết lòng vì nhân dân, một ông vua biết lo cho dân cho nước, một người cha tốt bụng nhưng rồi vì những sự kiện của đất nước mà ông đã đặt lợi ích của đất nước lên trên.

Trong câu chuyện đã đề cập đến một ông vua biết lo cho dân, một người luôn luôn hết lòng vì dân chúng, ông đã đặt lợi ích của dân chúng lên trên hết. Trong câu chuyện Mị Châu là một người vừa đáng thương vừa đáng trách, một người đáng thương là do cô là một người rất chung thủy nhưng lại bị chính người chồng của mình là Trọng Thủy lừa và lấy cắp lấy chiếc nỏ thần, những hành động của Mị Châu đáng thương ở chỗ tình cảm của cô bị đem ra làm trò đùa và lợi dụng những điều đó để thực hiện những mưu đồ của mình, những điều trên đã chứng tỏ một điều rằng Trọng Thủy là một người cũng là nạn nhân của những chuyện này, Triệu Đà đã sai Trọng Thủy sang làm rể và lừa lấy cắp nỏ thần, Mị Châu hết lòng yêu thương Trọng Thủy nhưng rồi tình yêu đó lại bị hắn lợi dụng để lấy cắp lấy chiếc nỏ thần mang về cho cha những hành động trên đã thể hiện được một điều đó là tình yêu của Mị Châu đang bị xâm hại đến, và đó là những hành động thể hiện những điều tuyệt vời nhất trong câu nói.

Trong câu chuyện Mị Châu đã tin vào chồng của mình, và rồi lại bị lừa, và cũng giống như An Dương Vương mất cảnh giác nên đã sơ ý làm mất nỏ thần, những điều trên đã thể hiện những điều tốt nhất và nó mang những điều riêng và có ý nghĩa sâu sắc tới con người, một người luôn biết lo cho dân cho nước nhưng chỉ vì những giây phút mất cảnh giác mà đã để mất nước, nhưng hình ảnh đó cũng làm cho dân tộc ta có một bài học quý báu trong cuộc sống, mỗi người nên hành động đúng và những hình ảnh đó đã thể hiện được những bài học kinh nghiệm của công cuộc xây dựng đất nước, quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc đã trải qua những thời kì gian nan và cũng dẫn đến quá trình vẻ vang nhất đó là những điều mang ý nghĩa sâu lắng. An Dương Vương là một người biết lo cho dân cho nước, một người luôn luôn vì dân tộc, và Mị Châu chỉ là nạn nhân đằng sau những lợi ích của cha con Trọng Thủy, những hình ảnh của Mị Châu chỉ thể hiện Mị Châu là một người biết lo lắng cho chồng, nhưng đáng trách của Mị Châu đã làm lộ ra bí mật cơ mật của quốc gia để rồi bị cháo mất nỏ thần.

Mị Châu và Trọng Thủy là hai người đáng thương, Trọng Thủy là người nằm trong quân bài của cha, và Mị Châu thì là quân bài của Trọng Thủy, những hình ảnh đó thể hiện mạnh mẽ về một vấn đề mang hình ảnh sâu sắc những chi tiết thể hiện mạnh mẽ chi tiết đó là một hình ảnh đặc trưng và nó đặc biệt trong câu chuyện, những hình ảnh của chúng ta đang thấy đó là việc thể hiện tình yêu thương của mình đối với đất nước. Trong khi Triệu Đà là người xảo quyệt, và đó là những hình ảnh dẫn tới đất nước bị rơi vào tay giặc, cả tin và cuối cùng bị lừa lấy nỏ thần, điều trên hình ảnh đó mang những đặc điểm đặc trưng trong những hình ảnh quen thuộc và mang những đặc điểm mạnh mẽ, trong hình ảnh đó những hành động trên đã chứng minh cho chúng ta thấy được nhân quả của những sự việc đang diễn ra những điều trên mang nhiều ý nghĩa bài học mạnh mẽ cho người đọc.

Hình ảnh trong câu chuyện nó mang những hình ảnh đặc biệt và nó mang nhiều ý nghĩa sâu sắc, những hình ảnh đó mang những đặc trưng riêng và câu chuyện đã xoay quanh quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc, mỗi người đều có nhiều cảm xúc cho người đọc. Truyện An Dương Vương Mị Châu Trọng Thủy là câu chuyện về việc mất nước. Qua đó nhân vật lịch sử muốn nói về những bài học lịch sử quan trọng cho dân tộc ta, những bài học lịch sử đã được thể hiện mạnh mẽ và nó lan tỏa mạnh mẽ trong lòng người đọc, mỗi quan hệ giữa lợi ích chung và lợi ích riêng, trong câu chuyện này, An Dương Vương đã biết đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân.

Tình yêu của ông đối với Mị Châu cũng vô cùng lớn, nhưng chỉ vì tình yêu đất nước ông đặt lên đầu chính vì vậy mà chính tay ông đã trừng trị kẻ bán nước Mị Châu, lợi ích của nước nhà ông đã đặt lên đầu đó là điều vô cùng ý nghĩa và quan trọng cuộc sống của An Dương Vương và Mị Châu cũng rơi vào một bi kịch đó là cha giết con, những hành động của ông đã mang nhiều ý nghĩa và giá trị sâu sắc, trong câu chuyện này, hình ảnh An Dương Vương hiện lên vẫn thu được nhiều sự quan tâm đặc biệt của người đọc, chính những sự yêu thương và một lòng vì đất nước mà ông đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể nhưng chỉ vì mắc vào một sai lầm mà đánh mất đất nước.

Câu chuyện đã để lại cho chúng ta những bài học lịch sử quan trọng không nên mất đi những lòng cảnh giác đối với kẻ thù đó là những kẻ thù đặc biệt nguy hiểm không nên mất cảnh giác với chúng, và qua tác phẩm này ta lý giải được về mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể của An Dương Vương với Mị Châu.

Cảm nhận về truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy – Bài làm 4

Châu Trọng Thủy được xem là một cốt truyện khá hay và đặc sắc và bi tráng nhất. Nó luôn có ý nghĩa lịch sử đối với dân tộc Việt Nam ta. Truyền thuyết là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố lịch sử và yếu tố tưởng tượng hoang đường. Nó phản ánh quan niệm đánh giá thái độ tình cảm của nhân dân với các yêu tố lịch sử và các nhân vật lịch sử.

Truyện An Dương Vương Mị Châu Trọng Thủy là câu chuyện cảm động về tình cha con tình cảm vợ chồng của Mị Châu và Trọng Thủy. Từ câu chuyện đó nhân dân ta muốn nhắn nhủ với thế hệ con cháu phải đề cao cảnh giác với kẻ thù kể cả con gái.

Câu chuyện kể và con rùa vàng sau khi giúp An Dương Vương xây dựng xong Loa Thành, trước khi ra về, thần Kim Quy còn tặng cho chiếc vuốt để làm lẫy nỏ thần. Nhờ có nỏ thần, An Dương Vương đánh bại quân Triệu Đà khi chúng sang xâm lược. Triệu Đà cầu hôn Mị Châu cho Trọng Thủy, vua vô tình đồng ý. Trọng Thủy dỗ Mị Châu cho xem trộm nỏ thần rồi ngầm đổi mất lẫy thần mang về phương Bắc. Sau đó, Triệu Đà phát binh đánh Âu Lạc.

Không còn nỏ thần, An Dương Vương thua trận, cùng Mị Châu chạy về phương Nam. Thần Kim Quy hiện lên kết tội Mị Châu, vua chém chết con rồi đi xuống biển. Mị Châu chết, máu chảy xuống biển thành ngọc trai. Trọng Thủy mang xác vợ về chôn ở Loa Thành, xác liền biến thành ngọc thạch. Vì quá tiếc thương Mị Châu, Trọng Thủy lao đầu xuống giếng mà chết. Người đời sau mò được ngọc trai, rửa bằng nước giếng ấy thì ngọc trong sáng thêm.

Câu chuyện bắt đầu từ chỗ An Dương Vương được rùa vàng cho mượn nỏ thần. Ông được nhà vua giúp đỡ bởi vì ông đã có ý thức đề cao cảnh giác cho xây thành đắp lũy để bảo vệ đất nước khỏi giặc ngoại xâm. Bên cạnh đó ông còn có lo rèn luyện binh sĩ ,chuẩn bị vũ khí để bất cứ khi nào cũng có thể chống giặc. Như vậy An Dương Vương trong những năm đầu xây dựng nước đã đạt được những thành công to lớn,đã làm được những việc trọng đại như chuyển đô từ miền núi về đồng bằng  xây được thành cao hào sâu chế được nỏ thần và thành công lớn nhất là chiến thắng được Triệu Đà bảo vệ được chủ quyền của đất nước. Ta có thể phân tích những nguyên nhân dẫn đến thành công là do An Dương Vương kiên trì quyết tâm không nản chí trước khó khăn thất bại tạm thời và cũng do An Dương Vương thành tâm cầu thần tài. Và mấu chốt của câu chuyện ở đây là do An Dương Vương được sự giúp đỡ từ thần linh (cụ rùa vàng) và ông cũng được sự giúp đỡ từ phía nhân dân. Như vậy An Dương Vương là một ông vua anh hùng là một thủ lĩnh sáng suốt của người Au Lạc có trách nhiệm và tinh thần cảnh giác cao độ . Vì vậy nhân dân luôn tôn kính ngưỡng mộ An Dương Vương. điều đó được chứng minh ở chỗ nhân dân đã sáng tạo ra hình ảnh rùa vàng và nỏ thần tạo ra sự kì ảo thần thánh hóa bất tử hóa sự nghiệp dựng nước và giữ nước chính nghĩa hợp lòng dân của An Dương Vương. Nỏ thần là sự kì ảo hóa vũ khí tinh sảo của người Việt xưa.

Nhưng sự nghiệp dựng nước ấy không được bao lâu thì tình cảnh mất nước đã xảy ra. An Dương Vương mất nước trước hết là do ông đã lơ là cảnh giác không hiểu rõ dã tâm nham hiểm của Triệu Đà nhận lời cầu hôn của Trọng Thủy cho phép giặc ở trong cung điều này chẳng khác nào “dẫn rắn về nhà”. Chính sai lầm ấy đã đẩy ông đến những sai lầm liên tục tiếp theo ông lơ là cảnh giác chủ quan khinh địch và sớm có tư tưởng an nhàn. Ông đã tự đánh mất mình tự mãn thiếu sáng suốt cảnh giác không hiểu bản chất nham hiểm của kẻ thù nên chuốc thất bại thảm hại. Ông thua là thua ở mưu kế hiểm độc do bị phá từ bên trong chứ không phải là do thua binh kém tướng. Cuối cùng : Nhà vua rơi vào bi kịch nước mất nhà tan . Ông chỉ tỉnh ngộ khi thành đã mất , lâm vào bước đường cùng , phía sau lưng là giặc , phía trước mặt là biển khơi mênh mông , không lối thoát ; tự tay ông phải chém đầu con gái yêu và kết thúc cuộc đời mình . Đó là hành động trừng phạt nghiêm khắc , đích đáng , đau đớn , đầy bi kịch.

Nhân vật Mị Châu trong truyện là một người phụ nữ thuận theo tình cảm vợ chồng mà quên mất nghĩa vụ với đất nước. Đây là quan niệm đúng. Ta chỉ có thể trách mị châu ở tinh tinh thần đối với vận mệnh của đất nước. Nàng đã đánh cắp nỏ thần đưa cho quân giặc mà không ngoảnh đầu lại đằng sau không để ý đến vận mệnh đất nước sẽ ra sao. Nàng đã tiết lộ bí mật của quốc gia do vậy tội chém đầu là không oan ức gì và nàng đã trở thành kẻ bán nước. Tuy vậy nhưng nhấn dân ta vẫn lập đền thờ và thờ hai cha con ở cạnh nhau điều đó thể hiện nhân dân ta quan niệm về tình máu mủ ruột thịt rất sâu sắc dù họ đã từng trở thành kẻ thù. Đây cũng là cách làm giảm bớt nỗi oan cho hai cha con nhà vua An Dương Vương và Mị Châu.

Nhân vật Trọng Thủy trong truyện là một nhân vật có dã tâm. Tuy vậy truyện tình đẹp giữa Mị Châu và Trọng Thủy đã được nhân dân ngợi ca trong sáng và được gắn liền với chi tiết ngọc trai và giếng ngọc. Nhưng suy cho cùng cuối cùng Mỵ Nương cũng là một nhân vật bị trọng Thủy lợi dụng. Khi Mị Nương chết Trọng Thủy đã vô cùng đau xót và luôn nhớ thương nàng. Đối với nước Âu Lạc Trọng Thủy là lên gián điệp lợi hại kẻ đã lợi dụng tình yêu để đánh cắp bảo vật của An Dương Vương và phản bội tình yêu trong sáng ngây thơ và cũng rất thủy chung của Mị Nương. Song chi tiết Trọng Thủy thương nhớ vợ cho thấy hắn vẫn là người có tình có nghĩa. Nhân dân vừa oán giận vừa thương xót Trọng Thủy. Oán giận vì hắn là tên đánh cắp nỏ thần là kẻ thù cảu nước Âu Lạc nhưng cũng thương xót vì hắn cũng là một người có tình cảm phải đứng trước sự chọn lựa giữa nghĩa vụ và tình yêu.

Hình ảnh “ngọc trai – giếng nước” là một hình ảnh đẹp lại vừa giàu ý nghĩa. Nó là một sự kết thúc hoàn mỹ cho một mối tình. Chi tiết “ngọc trai” đã chứng thực được tấm lòng trong sáng của Mị Châu. Chi tiết “giếng nước” có hồn Trọng Thủy lại là chi tiết được dựng lên để hóa giải nỗi hối hận vô cùng và tội lỗi của nhân vật này. Hình ảnh “ngọc trai – giếng nước” với việc ngọc trai kia đem rửa trong nước giếng này lại càng sáng đẹp hơn còn nói lên rằng Trọng Thủy đã tìm được lời hóa giải trong tình cảm của Mị Châu ở thế giới bên kia. Nhìn ở khía cạnh này Trọng Thủy lại là một kẻ si tình thật đáng thương. Phần kết truyện liên quan đến cái chết của Mị Châu thể hiện hai cái nhìn tưởng như trái ngược nhưng lại rất thống nhất của tác giả dân gian. Mị Châu bị trừng trị là một dứt khoát, rõ ràng của lịch sử. Nó xuất phát từ truyền thống yêu nước và lòng thiết tha với độc lập tự do của người Việt ta. Nhưng Mị Châu lại được “hồi sinh” (hóa thân vào ngọc và đá) bởi dân tộc ta bao giờ cũng bao dung. Kết thúc ấy thể hiện niềm cảm thông với sự trong trắng ngây thơ của nàng công chúa.

Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy, cho đến tận ngày nay vẫn chiếm được cảm tình của người đọc. Người ta đọc truyện để hiểu về lịch sử, để rút ra những bài học bổ ích cho mình và cho con cháu đời sau. Nhưng không chỉ thế, đọc truyền thuyết này, người ta còn muốn hiểu sâu sắc hơn bi kịch của một mối tình rất đẹp trong lịch sử. Sức sống của truyền thống An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy còn khơi nguồn cho những cảm hứng thi ca sau này.

Cảm nhận về truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy – Bài làm 5

Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, nếu cổ tích có “Tấm Cám”, truyện ngụ ngôn có “Thầy bói xem voi” thì truyền thuyết có “An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy”. Đây có thể xem là câu chuyện bi kịch đầu tiên trong văn học dân tộc, nó đã lấy đi không ít nước mắt cũng như sự căm phẫn của người đọc. Tuy nhiên, cũng chính vì thế mà ta đã rút ra được bài học cho chính mình: đừng quá chủ quan, khinh thường địch mà chuốc lấy thất bại.

Truyện xưa kể rằng, vua Hùng có một người con gái đẹp tuyệt trần tên là Mị Nương. Năm đó, Thục vương sai sứ đi cầu hôn Mị Nương. Vua Hùng tính đồng ý nhưng tướng Lạc Hầu cản lại, bảo rằng Thục chỉ có mưu đồ chiếm nước ta mà thôi. Không cầu hôn được vợ, Thục vương tức lắm. Di chúc để lại cho đời sau buộc phải cướp được nước Văn Lang của vua Hùng. Con cháu vua Thục mấy lần kéo binh sang đánh mà không được. Vua Hùng thấy thế đâm ra tự mãn, chỉ lo vui chơi, không lo việc binh biến, cuối cùng phải nhảy sông tự vẫn. Nước Văn Lang bị mất. Năm Giáp Thìn (257 trước công nguyên), Thục Phán đã đứng lên dẹp loạn, tự xưng là An Dương Vương, lập ra nước Âu Lạc. Ông đã một lòng vì nước, rất thương dân. Triệu Đà đánh thua bèn rút về nước, cầu hòa và xin An Dương Vương gả con gái Mị Châu cho con trai Đà là Trọng Thủy. Mặc dù tướng Cao Lỗ đã hết sức can ngăn nhưng An Dương Vương vẫn mặc, lại còn bãi chức tướng Cao Lỗ. Và bi kịch cũng xuất phát từ đó. Truyền thuyết “An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy”, trích truyện “Rùa Vàng” trong “Lĩnh Nam chích quái”, đã nói lên chiến công của An Dương Vương trong việc xây thành Cổ Loa và diễn tả nỗi bi thảm của mối tình giữa Mị Châu và Trọng Thủy.

Trong buổi đầu dựng nước, An Dương Vương đã rất có công với dân tộc. Ông cho xây thành Cổ Loa với hi vọng nhân dân sẽ được ấm no hạnh phúc. Việc xây thành mãi vẫn không thành công, ông bèn cầu trời phật, giữ cho tâm mình trong sạch. Điều đó đủ để thấy tâm huyết của ông dành cho dân tộc là như thế nào. Nhờ sự giúp đỡ của sứ Thanh Giang cùng với tấm lòng yêu nước thương dân của ông, chỉ nửa tháng sau, thành đã được xây xong. Có lẽ ông đã vui mừng khôn xiết khi thấy điều đó. Ông còn lo cho vận mệnh đất nước khi tâm sự mối băn khoăn lại bị Đà xâm chiếm với thần Kim Quy. Thần đã cho An Dương Vương một cái vuốt. Ông đã làm thành nỏ, cái nỏ ấy có thể bắn ra hàng ngàn mũi tên chỉ trong một lần bắn (nhân dân gọi là nỏ thần). Nước Âu Lạc nhờ thế nên đã được sống trong thái bình thịnh trị. Ta thấy rằng An Dương Vương quả là một vị minh quân, một người biết nhìn xa trông rộng, biết lo trước những mối lo của thiên hạ.

Nhưng cũng chính vì thế cũng đã hình thành tính tự mãn nơi ông. Khi Đà sang cầu hôn, ông đã đồng ý gả con gái mình cho con trai Đà là Trọng Thủy. Cuộc hôn nhân giữa hai nước vốn đã có hiềm khích là sự dự báo cho những mối hiểm họa về sau.

“Một đôi kẻ Việt người Tàu
Nửa phần ân ái nửa phần oán thương”

“Một đôi kẻ Việt người Tàu” lấy nhau như thế là một sự nguy hiểm khôn lường. Thế nhưng An Dương Vương không hề màng tới điều đó. Có lẽ ông chỉ mong hai nước sớm thuận hòa qua cuộc hôn nhân này và nhân dân sẽ không phải chịu cảnh khổ đau. Nhưng ông không biết được, kẻ thù dù quỳ dưới chân ta thì chúng vẫn vô cùng nguy hiểm. Ông nghĩ cho dân, nghĩ đến cái lợi trước mắt nhưng lại không nghĩ đến những điều nguy hiểm sắp đến. Vì thế, ông đã đưa cả cơ đồ “đắm biển sâu”.

Sự tự mãn là bạn đồng hành của thất bại. Có nỏ thần trong tay, An Dương Vương dường như đã nắm chắc phần thắng trong tay. Đỉnh điểm là lúc được báo Triệu Đà sang đánh chiếm thì ông “vẫn điềm nhiên ngồi đánh cờ, cười mà nói rằng: ‘Đà không sợ nỏ thần sao?’” Ông đã bước vào vết xe đổ của người xưa, để rồi lúc nguy cấp nhất, ông mới lấy nỏ thần ra bắn và biết là nỏ giả, liền dắt con gái bỏ chạy về phương Nam. Trong lúc cấp bách, ông chỉ biết mỗi việc bỏ chạy chứ không còn cách đối kháng nào khác. Khi ra đến biển Đông, ông còn không nhận ra được đâu là giặc, ông chỉ ngửa mặt kêu “trời” mà không biết phải làm gì. Đến khi thần Rùa Vàng hiện lên và nói: “Kẻ ngồi sau lưng chính là giặc đó!” thì ông đã rút gươm chém con gái của mình. Hành động dứt khoát, không do dự ấy đã chứng minh ông là một vị minh quân. Ông đặt việc nước lên trên việc nhà, không để việc riêng làm lung lay ý chí. Thần Rùa Vàng hay chính thái độ của nhân dân lao động đã bổ sung mọi khiếm khuyết cho ông. Khi ông không xây được thành, thần hiện lên giúp đỡ, khi ông lo cho vận mệnh đất nước, thần cũng hết sức chỉ bào ông và lúc này, khi nguy cấp nhất, thần cũng hiện lên để giúp ông. Phải chăng đó là sự ngưỡng mộ, sự tha thứ cho một vị minh quân của nhân dân? Chi tiết “vua cầm sừng tê bảy tấc, Rùa Vàng rẽ nước dẫn vua đi xuống biển” đã chứng minh điều đó. Biển cả đã mở rộng tấm lòng đón ông về. Những con sóng trôi dạt vào bờ lại bị bật ra năm nào liệu có còn nhớ hình ảnh hai cha con tội nghiệp?

Nếu như kì tích xây thành Cổ Loa là một chiến thắng vẻ vang mang tính huyền thoại thì sự thất bại lần này của An Dương Vương mang tính hiện thực sâu sắc. Và bi kịch nước mất nhà tan ấy xuất phát từ mối tình duyên của Mị Châu và Trọng Thủy. Mị Châu là con An Dương Vương, là vợ Trọng Thủy và là con dâu của Triệu Đà. Nàng rất ngây thơ, yêu Trọng Thủy với một tình yêu trong sáng của con gái. Nàng đã trao cho Trọng Thủy tất cả trái tim mình. Mấu chốt chính là lúc nàng chỉ cho Trọng Thủy xem nỏ thần. Nỏ thần là bí mật quốc gia, là việc đại sự, thế mà nàng lại “vô tư” đến mức đưa cho Trọng Thủy xem. Nàng u mê, ngu muội đến mức lầm lẫn giữa “tình nhi nữ” và “việc quân vương”. Còn gì đau xót hơn chăng? Nếu xét về khía cạnh một người vợ thì Mị Châu là một mẫu hình lí tưởng cho chữ “tòng” thời ấy. Nhưng không chỉ là một người vợ, Mị Châu còn là công chúa của nước Âu Lạc. Khi đã tráo được nỏ thần, Trọng Thủy biện cớ về thăm cha. Trước khi đi, chàng nói với Mị Châu: “Tình vợ chồng không thể lãng quên, nghĩa mẹ cha không thể dứt bỏ. Ta nay trở về thăm cha, nếu như đến lúc hai nước thất hòa, Bắc Nam cách biệt, ta lại tìm nàng, lấy gì làm dấu?”. Câu nói đầy ẩn ý của Trọng Thủy thế mà Mị Châu không nhận ra. Nàng yêu Trọng Thủy đến mức còn không thèm đặt ra câu hỏi tại sao hai nước phải thất hòa, tại sao Bắc Nam phải cách biệt trong khi ta đã là “người một nhà”. Nàng chỉ hướng về hạnh phúc lứa đôi, mong đến ngày sum họp: “Thiếp phận nữ nhi, nếu gặp cảnh biệt li thì đau đớn khôn xiết. Thiếp có áo gấm lông ngỗng thường mặc trên mình, đi đến đâu sẽ rứt lông mà rắc ở ngã ba đường để làm dấu, như vậy sẽ có thể cứu được nhau”. Câu nói của Mị Châu là lời nói của một người vợ yêu chồng tha thiết. Nhưng nàng không biết rằng hành động của nàng đã cho Triệu Đà chiến thắng vua cha, cho Trọng Thủy đuổi theo giết cha mình.

“Lông ngỗng rơi trắng đường chạy nạn
Những chiếc lông không tự biết giấu mình”

Khi bị giặc truy đuổi, Mị Châu đã mặc chiếc áo lông ngỗng trên mình. Chiếc áo hóa trang lông ngỗng là trang phục của người phụ nữ Việt xưa trong những dịp lễ hội. Thế nhưng Mị Châu lại mặc nó vào lúc nguy cấp như thế này. Điều đó cho thấy nàng đã không còn lí trí sáng suốt nữa. Mọi hành động của nàng đều bị tình cảm vợ chồng chi phối. Trước khi bị vua cha chém đầu, nàng đã nói: “Thiếp là phận gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại cha, chết đi sẽ biến thành cát bụi. Nếu một lòng trung hiếu mà bị người lừa dối thì chết đi sẽ biến thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù”. Nàng đã nhận ra được chân tướng sự việc, rằng người nàng đã yêu, đã tin tưởng bấy lâu nay chỉ là kẻ lừa bịp. Cái chết của Mị Châu là sự hóa thân không trọn vẹn, xác biến thành ngọc thạch, máu biến thành châu ngọc. Điều đó cho thấy sự cảm thông của nhân dân ta với Mị Châu, một người đã “vô tình” đưa nước Việt vào một ngàn năm nô lệ.

Ba nhân vật, ba số phận, ba vai diễn đều do Triệu Đà đứng phía sau làm đạo diễn. Nhưng có lẽ, vai diễn của Trọng Thủy là khó khăn nhất. Chàng phải hóa thân thành nhiều vai, mỗi vai một tính cách khác nhau, đòi hỏi ở con người ta phải có tài năng diễn xuất kiệt xuất. Trước mặt An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy đeo chiếc mặt nạ là một người con rể, một người chồng hết sức yêu thương vợ. Nhưng chiếc mặt nạ còn lại Trọng Thủy giấu vào trong bóng tối. Chàng diễn hay đến mức không ai có thể nhận ra. Lời chàng nói với Mị Châu khi từ biệt, những hành động âu yếm của chàng đối với Mị Châu cho ta thấy chàng là một người đàn ông mẫu mực. Thế nhưng tất cả đã hoàn toàn sụp đổ khi ta nhận ra được âm mưu của chàng. Cuối truyện, Trọng Thủy cũng không thể nào sống yên cùng với những vinh hoa phú quý mà mình chiếm được. Tâm trạng chàng rất dằn vặt. Có lẽ trước khi thực hiện mưu đồ ấy, chàng cũng đã đấu tranh tư tưởng rất nhiều. Nhưng suy cho cùng chàng cũng là thân phận người Tàu, là con trai Triệu Đà và là nạn nhân của cuộc chiến tranh phi nghĩa. Chàng đã hết lòng trung thành với cha. Nhưng chi tiết chàng nhảy xuống giếng vì tưởng nhớ Mị Châu đã cho ta một cách nhìn khác về nhân vật này. Chàng đã gài một cái bẫy giúp cha mình, một cú lừa ngoạn mục để rồi chàng cũng chính là nạn nhân của cái bẫy ấy. Người đời sau mò được ngọc ở biển Đông lấy nước giếng này rửa thì thấy ngọc sáng thêm. Phải chăng Mị Châu đã tha thứ cho Trọng Thủy? Nhưng tin chắc rằng nàng sẽ không ngu muội nữa, vì lời nguyền của nàng là sẽ “rửa sạch mối nhục thù” chứ không cầu mong gì thêm. Ngọc sáng đã minh chứng cho tình yêu, lòng chung thủy và sự trong sáng, vô tội của nàng.

Không như cổ tích, cái kết luôn có hậu cho mọi người. Truyền thuyết buộc ta phải suy ngẫm thật nhiều sau đó. Chúng ta phải biết đặt cái chung lên trên cái riêng, nhất là phải cảnh giác, đừng như An Dương Vương “nuôi ong tay áo, nuôi cáo trong nhà”. Và trong tình yêu phải luôn luôn sáng suốt, đừng nên lầm đường lạc lối để rồi phải trả một cái giá quá đắt như Mị Châu. Truyện vừa mang tính triết lí vừa thấm đậm ý vị nhân sinh như Tố Hữu trong “Tâm sự” đã nói:

“Vẫn còn đây pho tượng đá cụt đầu
Bởi đầu cụt nên tượng càng rất sống
Cái đầu cụt gợi nhớ dòng máu nóng
Hai ngàn năm dưới đá vẫn tuôn trào
Anh cũng như em muốn nhắc Mị Châu
Đời còn giặc xin đừng quên cảnh giác
Nhưng nhắc sao được hai ngàn năm trước
Nên em ơi ta đành tự nhắc mình”

Các bài nên tham khảo

Soạn bài Cầu Long Biên – chứng nhân lịch sử

Soạn bài cầu Long Biên – chứng nhân lịch sử I. Đọc – hiểu văn bản Câu 1. Bài văn có thể chia làm 3 đoạn. (1) Từ đầu đến « của thủ đô Hà Nội » : giới thiệu ...

Sự việc và nhân vật trong văn tự sự

Sự việc và nhân vật trong văn tự sự I. Đặc điểm của sự việc và nhân vật trong văn tự sự. 1. Sự việc trong văn tự sự a. - Sự việc khởi đầu là (1). - Sự việc phát ...

Soạn bài giao tiếp, văn bản và phương thức biểu đạt

Soạn bài giao tiếp, văn bản và phương thức biểu đạt I. Tìm hiểu chung về văn bản và phương thức biểu đạt. 1. Văn bản và mục đích giao tiếp a. Muốn biểu đạt tư ...

Soạn bài nhân hóa

Soạn bài nhân hóa I. Nhân cách hóa là gì? 1. Có 3 sự vật được miêu tả bằng những từ ngữ để gợi hoặc tả con người. (1) Ông trời mặc áo giáp đen ra trận. (2) Muôn ...

Tả một chú công nhân đang xây nhà

Đề bài: Tả một chú công nhân đang xây nhà. Hướng dẫn lập dàn ý I. Mở bài - Hàng ngày đến trường đi qua một công trường đang xây dựng. - Em gặp chú công nhân thợ ...

Phát biểu cảm nghĩ về bài Cầu Long Biên - chứng nhân lịch sử của Thuý Lan

Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về bài kí Cầu Long Biên - chứng nhân lịch sử của Thuý Lan Bài làm Văn bản nhật dụng này cung cấp cho chúng ta những thông tin bổ ích ...

Phát biểu cảm nghĩ của em về nhân vật Dế Mèn

Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ của em về nhân vật Dế Mèn trong đoạn trích Bài học đường đời đầu tiên (trích Dế Mèn liêu lưu kí) của nhà văn Tô Hoài. Bài làm 1. Ở ...

Soạn bài luyện tập về phương pháp lập luận trong văn nghị luận

LUYỆN TẬP VỀ PHƯƠNG PHÁP LẬP LUẬN TRONG VĂN NGHỊ LUẬN I. LẬP LUẬN TRONG ĐỜI SỐNG Lập luận trong đời sống là đưa ra luận cứ (chứng cứ) nhằm dẫn dắt người nghe, ...

Soạn bài tinh thần yêu nước của nhân dân ta

TINH THẦN YÊU NƯỚC CỦA NHÂN DÂN TA I. GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI TÌM HIỂU BÀI Câu 1: (Sgk. tr 26) - Bài văn này nghị luận vấn đề tinh thần yêu nước của nhân dân ta. ...

Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ